TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

ĐỘC TRUYỆN ONLINE

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện Trường THTHCS Trấn Ninh

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Giáo dục địa phương lớp 6

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lương Thị Lành
    Ngày gửi: 08h:33' 23-12-2025
    Dung lượng: 25.7 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    1

    2

    Trang
    LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ

    5

    Chủ đề 1. Truyền thuyết xứ Lạng

    5

    Chủ đề 2. Các thể loại âm nhạc truyền thống của Lạng Sơn

    9

    Chủ đề 3. Trang phục truyền thống các dân tộc Lạng Sơn

    15

    Chủ đề 4. Trò chơi dân gian các dân tộc Lạng Sơn

    23

    Chủ đề 5. Vùng đất Lạng Sơn từ thời nguyên thuỷ đến thế kỉ X

    29

    Chủ đề 6. Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở Lạng Sơn

    40

    LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP

    49

    Chủ đề 7. Vị trí địa lí, giới hạn và sự phân chia hành chính tỉnh Lạng Sơn

    49

    Chủ đề 8. Nghề truyền thống ở Lạng Sơn

    55

    LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG

    65

    Chủ đề 9. Biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai ở tỉnh Lạng Sơn

    65

    3

    Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp
    Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học khác.
    Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá, lịch sử,
    địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang bị cho
    học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào về quê hương,
    gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân trọng và có ý thức
    giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh địa phương, vận dụng
    những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của địa
    phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp.
    Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn, lớp 6 được biên soạn bao gồm khung
    chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm 9
    chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học. Việc biên soạn tài
    liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan. Nội dung,
    thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát mục tiêu đổi mới
    giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương
    Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh tương ứng với lớp, cấp
    học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học tích
    cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tối đa tính tự giác, tích cực,
    sáng tạo của giáo viên và học sinh.
    Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn, lớp 6 là các chuyên gia,
    các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học cơ sở,
    Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn.
    Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ quản lí giáo dục,
    giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các hội nghị, hội thảo;
    đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh,
    được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi và thực tiễn cao.
    Tài liệu đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định và Bộ Giáo dục và Đào tạo
    phê duyệt. Đây là Tài liệu Giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các
    trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
    Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui!

    4

    VĂN HOÁ, LỊCH SỬ

    1

    TRUYỀN THUYẾT XỨ LẠNG

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Nhận biết được một số yếu tố của truyền thuyết như cốt truyện, nhân vật, cốt lõi
    lịch sử, yếu tố kì ảo,… qua một truyền thuyết tiêu biểu của Lạng Sơn.
    ● Viết được đoạn văn bày tỏ cảm xúc về một nhân vật trong truyền thuyết đã học.
    ● Kể lại được truyền thuyết đã học.
    ● Tóm tắt được một truyền thuyết khác của Lạng Sơn.
    ● Biết yêu quý, trân trọng và có ý thức giữ gìn, lưu truyền những truyền thuyết của
    tỉnh Lạng Sơn.

    Quan sát hình ảnh và trả lời câu hỏi:
    Đây là hình ảnh lễ hội nào? Em biết
    gì về lễ hội đó? Lễ hội này có liên quan
    đến truyền thuyết nào?

    CHUẨN BỊ
    Khi đọc truyền thuyết dưới đây, em cần chú ý:
    ‒ Nội dung truyện.
    ‒ Những địa danh gắn liền với tỉnh Lạng Sơn.
    ‒ Yếu tố kì ảo.
    ‒ Các hiện tượng tự nhiên.
    ‒ Những mong muốn của nhân dân thể hiện trong truyện.
    5

    VĂN BẢN

    SỰ TÍCH HỘI BƯA LỪA(1)
    Ngày xưa, tại Pác Cáp, Văn Mịch(2) có hai vợ chồng làm nghề đánh cá sống hoà thuận,
    thương yêu nhau, vậy mà trên bốn mươi tuổi vẫn không có một mụn con.
    Một đêm, bà vợ nằm mơ về thăm ngoại. Đi được nửa đường mưa to ập đến, sấm
    chớp ầm ầm, một tia sét đánh trúng mạng sườn. Bà giật mình tỉnh giấc và kể lại cho
    chồng nghe. Họ đều cho là điềm lành. Từ đấy bà có thai. Hai vợ chồng vẫn ngày đêm đi
    đánh cá.
    Hôm ấy, họ vẫn đi đánh cá như thường lệ. Mẻ lưới đầu tiên chẳng được con cá nào
    mà chỉ được một quả trứng. Họ ném quả trứng đi thật xa và xuống Hát Quang(3) đánh
    cá. Mẻ lưới thứ hai kéo lên lại vẫn quả trứng ấy. Họ lại ném đi và bơi ngược dòng lên Hát
    Lải(4) kéo lưới. Lạ thay lần này vẫn được quả trứng ấy. Họ nhận ra quả trứng vì có một
    chấm rất đỏ. Hai vợ chồng đem về cho gà ấp thử, một thời gian sau trứng nở ra một con
    rắn có mào đỏ trên đầu, ông bà đánh cá bèn nhận nó là con. Từ ngày ấy mỗi lần đi đánh
    cá họ thường bắt được rất nhiều. Nhờ vậy, chẳng mấy chốc kinh tế gia đình trở nên
    sung túc.
    Bà vợ mang thai đủ tháng, đủ ngày và sinh ra được một cậu con trai. Vì sinh sau rắn
    nên cậu là em. Ngày tháng đi qua, hai anh em càng lớn càng quý mến nhau. Hằng ngày
    bố mẹ đi đánh cá, rắn ở nhà trông em. Một hôm bố mẹ đi đánh cá xa, buổi trưa nóng và
    oi hai anh em rủ nhau ra sông Văn Mịch tắm. Rắn lặn được sâu và bơi được xa hơn. Cậu
    em bơi yếu không dám theo. Rắn càng bơi càng thích thú. Thừa lúc rắn không để ý,
    thuồng luồng xông tới bắt mất cậu em. Vô cùng buồn bã, rắn bò về nhà và chui vào chỗ
    ngủ của mình. Tối đến, bố mẹ về thấy nhà tối om, cứ tưởng hai con mải chơi ở đâu. Vào
    nhà chỉ thấy rắn mà không thấy cậu con trai đâu, bố mẹ hỏi rắn:
    ‒ Em đâu?
    Rắn giàn giụa nước mắt kể lại:
    (1)

    Bưa Lừa: (còn gọi là Phài lừa) bơi bè, chèo bè.

    (2), (3, (4)

    6

    Pác Cáp, Văn Mịch, Hát Quang, Hát Lải: các địa danh thuộc xã Hồng Phong, huyện Bình Gia.

    ‒ Em bị thuồng luồng bắt mất rồi.
    Ông bà đánh cá kêu trời, khóc lóc thương cho số phận hẩm hiu của cậu con trai. Ông
    bà buồn bã chẳng thiết làm gì nữa. Rắn thì càng ngày càng ăn khoẻ, lớn nhanh như thổi.
    Chẳng mấy chốc nó dài và to như cột nhà, mào to như quạt nan đỏ rực. Một bữa ăn của
    rắn bằng ông bà ăn mấy ngày. Vì thế số của cải làm ra chẳng mấy chốc mà hết. Kinh tế
    ngày một cạn kiệt, không nuôi nổi rắn nữa, ông bà phải nói với rắn rằng:
    ‒ Nay bố mẹ đã già yếu và nghèo khó quá không nuôi nổi con nữa. Con hãy tự kiếm
    sống ở nơi nào đó cho đỡ khổ. Nhưng nhớ thỉnh thoảng về nhà thăm bố mẹ.
    Rắn hiểu lòng bố mẹ và rất buồn bởi mất em rồi lại phải xa bố mẹ.
    Dân làng nghe nói ông bà đánh cá có người con bị thuồng luồng bắt, trong nhà lại
    nuôi một con rắn to nên kéo nhau đến chia buồn và xem rắn. Nhìn thấy con rắn to có
    mào đỏ rực họ khẳng định đây là thuồng luồng. Vì thế, dù rất sợ nhưng dân làng vẫn
    reo hò, cầm dao, nhặt đá đuổi rắn đi để khỏi gây tai vạ cho con người. Ngày ấy là ngày
    25 tháng 3 âm lịch, rắn bò ra khỏi nhà và đau đớn vì dân làng không hiểu được mình.
    Buồn bã, rắn đến cây đa to ở Pác Cáp, bò lên ngọn cây treo mình mấy ngày liền làm
    cho dân làng càng sợ hơn. Họ đi mời thầy về yểm bùa. Rắn trườn xuống gốc đa nằm
    một ngày, một đêm. Rạng sáng ngày 4 tháng 4 âm lịch, rắn từ gốc đa trườn xuống
    sông nơi trước đây em trai mình bị thuồng luồng bắt. Rắn vặn mình ba cái và thét lớn rằng:
    ‒ Tao sẽ giết hết chúng mày, lũ thuồng luồng độc ác. Chúng mày đã gieo tai hoạ cho
    con người và làm tao phải vạ lây bị đuổi, xa cha mẹ.
    Rắn quăng xuống sông bơi ngược, bơi xuôi vào tất cả các hang hốc giết chết tất cả
    thuồng luồng trên dòng sông Văn Mịch, xong rắn về từ biệt mẹ cha, hẹn cứ ba năm về
    thăm một lần rồi xuống sông đi theo dòng ra sông Kỳ Cùng. Từ đó người dân Văn Mịch
    không phải lo sợ thuồng luồng như trước nữa.
    Hai vợ chồng người đánh cá ngày càng già yếu. Vào một ngày nọ, ông bà qua đời
    cùng một lúc. Dân làng chôn ông ở cạnh cây đa Pác Cáp và dựng lên một cái đình gọi là
    Đình Ông, bà vợ được chôn cất bên kia sông và cũng lập một cái đình đối diện gọi là
    Đình Bà.
    Từ đó trở đi cứ năm nhuận vào ngày 4 tháng 4 âm lịch, rắn lại về Văn Mịch thăm bố
    mẹ và bà con hàng xóm. Biết ơn rắn đã trừ được thuồng luồng độc ác nên vào ngày
    tháng này bà con Văn Mịch lại tổ chức một lễ hội trọng thể để đón rắn về thăm. Đó là
    hội Bưa Lừa.
    (Theo Nguyễn Duy Bắc, Truyện cổ xứ Lạng, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội,1998)

    7

    Em có biết?
    ● Truyền thuyết Lạng Sơn có hai nhóm tiêu biểu: nhóm truyền thuyết về các vị thần tự
    nhiên (Ông Dài, ông Cộc; Sự tích lễ hội đình Vằng Khắc; Động Song Tiên và Giếng Tiên) và
    nhóm truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm (Tềnh Tổng, Ngõ Thề, Làng Lìu).

    ● Trong văn hoá dân gian, rắn là vật linh được nhân dân thờ với ý nghĩa là biểu tượng của vị

    thần sông nước. Tại Lạng Sơn, tục thờ rắn có ở cộng đồng cư dân nông nghiệp sinh sống
    dọc theo các con sông lớn: sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang,... để cầu mong mưa thuận gió
    hoà, mùa màng bội thu.

    1. Hãy liệt kê những sự việc chính của truyện Sự tích hội Bưa Lừa.
    2. Truyện có nhắc đến những địa danh nào?
    3. Tìm các chi tiết kì ảo trong truyện. Những chi tiết này có tác dụng gì?
    4. Sự việc rắn tiêu diệt hết thuồng luồng trên sông Văn Mịch phản ánh hiện tượng
    tự nhiên và ước mơ gì của nhân dân?

    1. Viết đoạn văn (khoảng 5 ‒ 7 câu) thể hiện cảm nghĩ của em về nhân vật rắn trong
    truyền thuyết trên.
    2. Kể lại Sự tích hội Bưa Lừa trước lớp.
    3. Lắng nghe, nhận xét nội dung kể, cách kể chuyện của bạn.

    1. Tìm đọc một số truyền thuyết khác được lưu hành ở Lạng Sơn.
    2. Viết đoạn văn (khoảng 10 – 12 câu) tóm tắt lại một truyền thuyết mà em thích.
    Trao đổi về những cảm nhận, suy nghĩ của em khi đọc truyền thuyết đó.

    8

    2

    CÁC THỂ LOẠI ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG
    CỦA LẠNG SƠN

     

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Kể tên được một số thể loại dân ca truyền thống ở Lạng Sơn.
    ● Nhận diện được một số thể loại âm nhạc truyền thống của các dân tộc Lạng Sơn
    qua hình ảnh, âm thanh và video clip.
    ● Có ý thức tuyên truyền, gìn giữ và phát huy những thể loại âm nhạc truyền thống
    của Lạng Sơn.

    Em hãy chia sẻ với bạn những điều đã biết về các thể loại của Lạng Sơn theo các gợi
    ý sau:
    – Kể tên những thể loại âm nhạc truyền thống ở Lạng Sơn mà em biết. Nêu những
    hiểu biết của em về các thể loại âm nhạc truyền thống đó.
    – Em có thể hát một câu, một đoạn hoặc một bài thuộc các thể loại dân ca đó được không?

    1. Hát Sli
    Sli là lối hát giao duyên và là thể loại dân ca phổ biến của người Nùng Lạng Sơn. Sli
    thường được hát theo lối có tổ chức hoặc không có tổ chức trong những dịp mừng nhà
    mới, mừng sinh nhật, ngày tết, ngày hội đầu xuân,... Mỗi nhánh người Nùng có một loại
    Sli, người Nùng Cháo có Sli slình làng, người Nùng Phàn Slình có Sli sloong hào,...
    Nội dung lời ca Sli là những bài văn vần, mỗi câu bảy chữ, mỗi bài có từ một đến tám
    câu hoặc dài đến vài trăm câu. Đặc điểm của hát Sli là không cần có nhạc cụ đệm, không
    có vũ đạo kèm theo và hát bất cứ lúc nào, nơi nào, miễn là nơi đó có “đối tượng hát”. Đề
    tài của Sli bao gồm những hiện tượng tự nhiên như ngày, giờ, tháng, năm, mây, mưa,
    trăng, sao, cây cỏ, núi đồi, hay các sự kiện lịch sử, xã hội,... Với nội dung phong phú, đa
    dạng, Sli truyền tải những giá trị nhân văn, hướng thiện, thể hiện bản chất tốt đẹp và
    mang đậm bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc Nùng tỉnh Lạng Sơn.
    Sli của người Nùng Cháo sử dụng hai điệu hát chính, đó là điệu không lên giọng và
    điệu lên giọng. Điệu không lên giọng thường hát ở những bài mở đầu cuộc Sli, tính chất
    mềm mại, tình cảm,… Còn điệu Sli lên giọng nhanh hơn, sôi nổi hơn, giai điệu lên
    xuống có phần phức tạp hơn, thường hát vào giữa cuộc Sli.
    9

    Người Nùng Phàn Slình diễn xướng Sli theo hình thức hai giọng (hai bè) rất đặc biệt.
    Trong cuộc Sli, mỗi bên nam hoặc nữ phải hát hai người hoặc một tốp người. Sli của
    người Nùng Phàn Slình khoẻ khoắn, mạnh mẽ và sôi nổi.

    Hình 1. Hát Sli

    Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Sli có mặt ở 11/11 huyện, thành phố với
    khoảng 50 câu lạc bộ, tổ đội hát Sli. Trong đó có khoảng trên dưới 1 000 nghệ nhân,
    những người đam mê, yêu thích hát Sli tham gia sinh hoạt. Điều đó khẳng định tính hấp
    dẫn, độc đáo của hát Sli và thể hiện sự quan tâm, định hướng của cấp uỷ, chính quyền,
    nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá
    của tỉnh nhà.

    Em có biết?
    Năm 2019, hát Sli của người Nùng tỉnh Lạng Sơn được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
    đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

    1. Trình bày những hiểu biết của em về hát Sli.
    2. Nêu ý nghĩa của Sli trong đời sống người Nùng ở Lạng Sơn.

    10

    2. Hát Lượn
    Lượn là hình thức diễn xướng dân ca có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh
    thần người Tày. Nội dung chủ yếu trong các bài Lượn là nói lên những tâm tư, tình cảm,
    ca ngợi cuộc sống, ca ngợi lao động sản xuất, ca ngợi thiên nhiên và tình yêu đôi lứa.
    Lượn bao gồm ba loại: Lượn slương, Lượn cọi và Lượn nàng hai. Nếu như Lượn cọi và
    Lượn nàng hai có địa bàn chính ở phía tây Việt Bắc thì Lượn slương lưu hành ở địa bàn
    Lạng Sơn là chính. Vì thế, Lượn slương có khi còn được gọi là Lượn Lạng.

    Hình 2. Hát Lượn (Nguồn: thegioidisan.vn)

    Hình 2. Hát Lượn

    Lượn slương (nghĩa là Lượn thương) sử dụng thơ thất ngôn tứ tuyệt (bảy chữ, bốn
    câu). Cuộc Lượn thường được tổ chức trong ngày hội Lồng tồng mùa xuân, hay vào
    những đêm trăng sáng, dịp nông nhàn. Vào cuộc lượn, sau những bài mời của chủ bản,
    chỉ có một đôi trai gái hát đối đáp với nhau, các bài hát đều nhập tâm hoặc ứng khẩu.
    Theo những tài liệu sưu tầm được, sơ bộ có thể chia Lượn slương làm ba phần: Lượn đi
    đường, Lượn sử và Lượn chúc mừng.
    Đúng như tên gọi, mục đích của cuộc Lượn slương chủ yếu là bộc bạch niềm
    thương, nỗi nhớ. Cách diễn xướng mang đậm màu sắc độc thoại. Đây là một trong
    những điểm khác biệt của diễn xướng Lượn slương với diễn xướng các thể loại dân ca
    giao duyên khác. Giai điệu Lượn slương vừa sâu lắng, trữ tình, vừa nhẹ nhàng, bay bổng,
    chắp cánh cho những lời ca tinh tế, gần gũi xao xuyến tâm hồn.

    Em có biết?

     

    Theo nghĩa rộng, Lượn là diễn xướng dân ca của dân tộc Tày, gồm nhiều thể loại: Lượn
    Then, Lượn quan lang (hát đám cưới), Lượn phuổi pác (Phuổi pác) và Lượn phong slư
    (Phong slư). Theo nghĩa hẹp, Lượn là thể loại hát giao duyên của người Tày. Cả hai cách gọi
    đều có ý nghĩa riêng, song phổ biến là cách gọi Lượn theo nghĩa hẹp.

    11

    1. Có bao nhiêu thể loại Lượn trong đời sống văn hoá của người Tày?
    2. Nêu thời gian tổ chức và đặc điểm của Lượn slương.

    3. Hát Then
    Then là một loại hình diễn xướng nghi lễ mang tính tổng hợp các bộ môn nghệ
    thuật dân gian đặc sắc của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái miền núi phía bắc,
    trong đó có tỉnh Lạng Sơn. Then được hát lên vào những dịp trọng đại của làng xã hay
    của từng gia đình như vào dịp năm mới, nhà mới, con đầu lòng; Then còn được hát với
    mục đích giải hạn, trừ tà, chữa bệnh. Quanh năm bốn mùa xuân – hạ – thu – đông, người
    ta đều có thể hát then và làm lễ, đặc biệt là vào mùa xuân. Trong không khí linh thiêng,
    lời ca, điệu múa và âm nhạc hoà quyện rộn ràng, say đắm, cuốn hút người nghe, người xem.
    Về mặt nghi lễ, Then chứa đựng những tín ngưỡng, tôn giáo nguyên thuỷ như nghi
    lễ cầu an, cầu mùa, chữa bệnh. Về mặt nghệ thuật dân gian, Then được thể hiện sinh
    động bằng lời ca, tiếng nhạc, điệu múa dân gian hết sức phong phú và hấp dẫn.
    Những nhạc cụ và đạo cụ tiêu biểu dùng trong khi diễn xướng Then bao gồm: cây
    tính tẩu (hay tính then), chùm xóc nhạc. Ngoài ra, quạt giấy và khăn cũng thường được
    sử dụng.

    Hình 3. Hát Then

    Bên cạnh Then nghi lễ thì nghệ thuật hát Then – đàn tính ngày càng được quan tâm
    dàn dựng, biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp, quần chúng. Nội
    dung của các bài Then mới tập trung phản ánh đời sống của xã hội trong giai đoạn mới, ca
    ngợi Đảng, Bác Hồ, tình yêu quê hương, đất nước,… qua đó, góp phần quan trọng vào việc
    gìn giữ, phát huy giá trị di sản văn hoá của đồng bào các dân tộc ở Lạng Sơn trong thời kì hội
    nhập và phát triển hiện nay.
    12

    Em có biết?
    Năm 2019, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) chính thức
    ghi danh Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam vào danh sách Di sản văn
    hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

    1. Then được biểu diễn vào dịp nào?
    2. Việc bảo tồn và phát huy hát Then trong đời sống văn hoá ngày nay ở tỉnh
    Lạng Sơn đã được thực hiện như thế nào?

    4. Hát Páo dung
    Páo dung là diễn xướng dân gian của dân tộc Dao, là phương tiện để truyền tải
    những tâm tư, tình cảm và ước muốn của người Dao trong cuộc sống thường ngày. Páo
    dung thường được hát lên trong những ngày chợ phiên, ngày cưới, hay dịp lễ, tết, ngày
    hội của làng bản. Tương tự như lối hát Sli, Lượn của người Nùng, Tày thì Páo dung của
    người Dao phổ biến với lối hát đối đáp của tốp nam nữ thanh niên.
    Mỗi ngành Dao Lạng Sơn lại có một thể loại Páo dung riêng. Tuy nhiên, dù có khác
    nhau như thế nào thì Páo dung vẫn có đặc điểm chung trong tính chất âm nhạc, đó là
    mang đậm chất trữ tình, du dương, sử dụng nhiều luyến láy, nhiều từ phụ kéo dài như ư,
    ấy, a, ôi,… với nội dung định hướng giáo dục con người hiểu biết cội nguồn, gìn giữ và
    phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Hình 4. Nghệ nhân truyền dạy hát Páo dung cho thế hệ trẻ

    1. Người Dao hát Páo dung trong những dịp nào?
    2. Trình bày đặc điểm của hát Páo dung.

    13

    Hoạt động trải nghiệm: Tìm hiểu một số thể loại âm nhạc truyền thống của tỉnh
    Lạng Sơn
    – Nghe thầy, cô giáo phổ biến nội dung và yêu cầu, nhiệm vụ của học sinh trong buổi trải
    nghiệm tìm hiểu một số thể loại âm nhạc truyền thống của Lạng Sơn.
    – Xây dựng kế hoạch trải nghiệm.
    Gợi ý xây dựng kế hoạch:

    KẾ HOẠCH
    Tìm hiểu một số thể loại âm nhạc truyền thống của tỉnh Lạng Sơn
    1. Mục đích, yêu cầu:…
    2. Địa điểm trải nghiệm: …
    3. Thời gian: …
    4. Phương tiện đi lại: …
    5. Nội dung chương trình trải nghiệm
    Tham quan, tìm hiểu tại Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn, Hội Bảo tồn
    dân ca tỉnh Lạng Sơn, các câu lạc bộ đàn hát dân ca ở địa phương hoặc gặp gỡ các nghệ
    nhân, nghệ sĩ tiêu biểu,… Nội dung bao gồm:
    – Các nghệ sĩ, nghệ nhân trao đổi chia sẻ về một số thể loại âm nhạc truyền thống
    của tỉnh Lạng Sơn.
    – Nghe và xem các nghệ sĩ, nghệ nhân biểu diễn.
    – Học một đoạn hoặc một bài thuộc các thể loại âm nhạc truyền thống của tỉnh
    Lạng Sơn do các nghệ sĩ, nghệ nhân truyền dạy.
    6. Phân công nhiệm vụ
    – Phân công những nội dung cần chuẩn bị trước khi đi trải nghiệm.
    – Phân công những nội dung cần thực hiện sau khi đi trải nghiệm.

    Em hãy sưu tầm và tập thể hiện một số bài hát dân ca của địa phương nơi em
    sinh sống.

    14

    3

    TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG
    CÁC DÂN TỘC LẠNG SƠN

    Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
    ● Nhận biết được trang phục truyền thống của một số dân tộc ở Lạng Sơn (Tày,
    Nùng, Dao, Mông,...) qua kiểu dáng, hoa văn, màu sắc,… trên trang phục của các
    dân tộc đó.
    ● Giới thiệu được về trang phục truyền thống của dân tộc em hoặc một dân tộc
    thiểu số khác ở địa phương em.
    ● Cảm nhận được vẻ đẹp của trang phục dân tộc, có ý thức trân trọng, gìn giữ và
    phát huy trang phục truyền thống của tỉnh bằng những việc làm phù hợp.

    Em hãy cho biết:
    − Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện nay có những dân tộc nào đang sinh sống?
    − Em đã được thấy trang phục truyền thống của những dân tộc nào? Hãy chia sẻ
    cùng các bạn trong lớp.

    Lạng Sơn, miền địa đầu Tổ quốc là nơi cư trú của các dân tộc Nùng, Tày, Kinh, Dao,
    Sán Chay, Hoa, Mông,... Mỗi dân tộc đều có trang phục truyền thống của riêng mình.
    Trang phục truyền thống là một trong những “dấu hiệu” quan trọng để nhận biết các dân
    tộc khác nhau.

    15

    1. Trang phục dân tộc Tày
    Trang phục truyền thống của dân tộc Tày mang
    vẻ đẹp thuần khiết, bình dị và sâu lắng.
    Thường ngày, nam giới mặc áo chàm ngắn, mở
    cúc, cài khuy vải. Áo có cổ tròn dựng đứng với hai
    hoặc bốn túi ở phía trước. Quần là loại đũng chéo,
    ống rộng, dài tới mắt cá chân. Vào các dịp lễ, tết,
    hội hè, họ thường mặc áo dài quá gối, cài khuy về
    bên phải hoặc mặc áo the đen, quần trắng giống
    người Kinh, đầu quấn khăn chàm đen.

    Hình 1. Trang phục nam dân tộc Tày

    Phụ nữ Tày mặc áo dài quá gối, có cổ đứng thấp, cài khuy vải chéo sang nách phải.
    Thân và tay áo may vừa vặn, tôn đường nét hình thể của người phụ nữ. Khi mặc, họ
    dùng thắt lưng quấn ngang eo, thắt mối ở phía sau. Quần có kiểu dáng giống quần nam
    nhưng ống hẹp hơn.

    Em có biết?
    Vải bông nhuộm chàm là nguyên
    liệu dùng để cắt may trang phục của hầu
    hết các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn.
    Trước đây, phụ nữ Tày, Nùng, Dao, Sán
    Chay thường tự trồng bông, dệt vải, cắt
    may quần áo cho các thành viên trong
    gia đình. Trang phục dân tộc thể hiện
    đức tính cần cù, bàn tay khéo léo và
    thẩm mĩ tinh tế của đồng bào các dân
    tộc tỉnh Lạng Sơn.

    Hình 2. Trang phục nữ dân tộc Tày

    Phụ nữ Tày đội khăn vuông gập chéo. Những chiếc vòng cổ, vòng tay, vòng chân và
    dây xà tích bạc có màu trắng sáng nổi bật trên nền chàm đen khiến cho bộ trang phục
    của họ thêm đẹp và sinh động. Trước đây, nam, nữ thường đội nón chóp làm bằng nan
    tre, lá cọ, chân đi giày vải.
    16

    1. Trang phục truyền thống nam dân tộc Tày ở Lạng Sơn có đặc điểm gì?
    2. Qua nội dung trong mục 1 và quan sát hình 2, em hãy chỉ ra một số đặc điểm
    chính về kiểu dáng, màu sắc trên trang phục nữ dân tộc Tày. Khi mặc trang phục
    dân tộc, phụ nữ Tày thường sử dụng các loại trang sức, phụ kiện nào?

    2. Trang phục dân tộc Nùng
    Người Nùng ở Lạng Sơn gồm có ba nhóm: Nùng Inh, Nùng Phàn Slình và Nùng
    Cháo. Trang phục của các nhóm Nùng vừa mang nét chung của dân tộc mình, vừa
    mang những nét riêng của từng nhóm.
    Áo Nùng nam có kiểu dáng giống như áo Tày nhưng ngắn và ôm khít vào thân, tạo
    đường nét khoẻ khoắn. Hai bên tà áo thường đính các tua chỉ màu xanh, đỏ. Quần của
    họ ngắn, đũng và ống rất rộng. Cạp may ghép bằng vải mộc trắng hoặc vải chàm, cao
    khoảng một gang tay, khi mặc buộc mối ở phía trước.

    Hình 3. Trang phục nam, nữ dân tộc Nùng Phàn Slình, huyện Cao Lộc

    Áo của phụ nữ Nùng gồm có hai loại: áo ngắn và áo dài. Đặc điểm chung của trang
    phục nữ Nùng là cổ áo thường may liền với nẹp, xuôi về nách phải, cài khuy vải. Tay áo
    rộng, ở cổ tay đáp vải màu sẫm hơn hoặc trang trí các đường viền bằng vải màu. Quần
    nữ gần giống với quần nam nhưng cạp ngắn hơn, được may bằng vải cùng màu.
    Đa phần phụ nữ Nùng Phàn Slinh mặc áo cổ tròn, thân ngắn, phía dưới xoè rộng. Tà
    áo có các tua chỉ màu. Họ đội khăn đốm trắng hoặc khăn thổ cẩm tự dệt.
    17

    Hình 4. Trang phục nữ dân tộc Nùng Inh

    Em có biết?
    Xuất phát từ nhu cầu may trang phục
    dân tộc mà nghề trồng bông, dệt vải của
    người Nùng trước đây rất phát triển. Từ
    nền trang phục truyền thống, người Nùng
    đã sáng tạo nên những bộ trang phục có
    chất liệu, hoa văn trang trí rất phong
    phú, đa dạng để sử dụng trong đời sống
    hiện nay.

    Hình 5. Nữ dân tộc Nùng Phàn Slình trong
    trang phục áo dài

    Trang phục của người Nùng Cháo và một
    nhóm nhỏ Nùng Phàn Slình gần giống
    trang phục phụ
     
    Gửi ý kiến